CÂY DẠ CẨM

0
1184
CÂY DẠ CẨM
Đánh giá bài viết này

Còn gọi là cây loét mồm, đất lượt, đứt lưới, chạ khẩu cắm.

Tên khoa học Olenlandia eapitellata Kuntze.

Thuộc họ Cà phê Rubiaceae.

Ta dung toàn cây hay chỉ dung lá và ngọn non của nhiều loại lá dạ cẩm: Dạ cẩm thân tím nhiều long và loài dạ cẩm thân xanh

Mô tả cây

Cây dạ cẩm vốn có tên là loét mồm vì nhân dân vùng Lạng Sơn, Cao Bằng dung nó chữa loét mồm, loét lưỡi, là một loại cây bụi-trườn, thương cuốn vào cây khác, dài hơn 1-2m. Thân hình trụ, tại những đốt phình to ra. Lá đơn, nguyên, mọc đối, hình bầu dục, đầu nhọn. dài 5-15cm, rộng 3-6cm, cuống ngắn. Cụm hoa hình xim phân đôi tụ lại thành hình cầu ở đầu cành hay kẽ lá, gồm nhiều hoa hình ống nhỏ, màu trắng. Quả rất nhỏ xếp thành hình cầu.

Trên thực tế hiện nay người ta dùng 4 loại cây dạ cẩm, có thể là các dạng của loài mô tả trên: Cây dạ cẩm thân tím và cây dạ cẩm thân xanh (có khi gọi là thân trắng); mỗi loại lại thấy có 2 loại; loại nhiều long nhìn rõ và loại ít long không rõ. Loại thân tím có đốt cách thưa nhau, loại thân xanh hay trắng có đốt cách thưa nhau hơn.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây dạ cẩm hiện nay mọc hoang tại nhiều vùng rừng núi tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Hà Tây chưa nơi nào đặt vấn đề trồng trọt.

Mùa thu hái hầy như quanh năm: Thường hái lá và ngọn non, có thể dùng toàn cây, trừ bỏ rễ (tác dụng kém hơn).

Hái về rửa sạch phơi hay sấy khô, để nơi khô ráo dùng dần hay nấu thành cao.

Thành phần hóa học

Chưa có tài liệu nghiên cứu. Theo sơ bộ nghiên cứu của chi hội dược Lạng Sơn, trong dạ cẩm có tannin, ancaloit, saponin.

Năm 1967, Ngô Văn Thu (Bộ môn dược liệu Trường đại học Dược khoa) còn phát hiện thấy trong rễ một loại cây dạ cẩm có anthra-glucozit.

Công dụng và liều dùng

Bệnh viện Lạng Sơn là bệnh viện đầu tiên đưa cây dạ cẩm vào điều trị bệnh đau dạ dày từ năm 1962, xuất phát từ kinh nghiệm nhân dân dùng cây này nấu sôi cho có màu tím đẹp và điều trị viêm lưỡi, loét miệng và họng. Trẻ con dùng nước vắt của lá uống hoặc ngâm. Kết quả chống loét rất tốt.

Trên lâm sang, dạ cẩm có tác dụng làm giảm đau, trung hòa axit trong dạ dày, bớt ợ chua, vết loét se lại, bệnh nhân có cảm giác khoan khoái nhẹ nhàng.

Có thể dùng dạ cẩm dưới hình thức thuốc sắc, thuốc cao, bột hay cốm.

Dạng thuốc sắc: Ngày uống 10-25g lá, và ngọn khô, thêm nước vào sắc, thêm đường cho đủ ngọt, chia 2 hay 3 lần uống trong ngày

Uống trước khi ăn hay vào lúc đau

Cao dạ cẩm chế theo kinh nghiểm Ty y tế Lạng Sơn: Lá dạ cẩm khô 7kg, đường kính 2kg, mật ong 1kg. Nấu lá dạ cẩm với nước thành cao, cho vào 2kg đường đánh tan, cô lại, cuối cùng thêm 1kg mật ong tốt. Đóng thành chai 250ml.

Ngày uống 2 đến 3 lần, trước khi ăn hoặc khi đau, mỗi lần uống 1 thìa to (tương ứng 10-15g).

Cốm dạ cẩm: Bột dạ cẩm 7kg, cam thảo 1kg, đường kính 2kg, tá dược vừa đủ dính (hoog, nếp) thêm đường và sacarin vừa đủ ngọt. Lúc đầu Ty y tế Lạng Sơn còn pha 4 phần bột dạ cẩm, 1 phần bột bồ kết nhưng sau bỏ bồ kết. Ngày uống 2 lần trước khi ăn hoặc khi đang đau; mỗi lần dùng 10-15g, trẻ em dưới 18 tuổi từ 5-10g.

Ngày nay cao dạ cẩm đã vượt quá phạm vi Lạng Sơn và được dùng rộng rãi tại nhiều tỉnh khác. Năm 1967 Khoa dược liệu Trường đại học dược khoa đã chế thành cao mềm để lâu không bị mốc mặc dù không phải thêm chất bảo quản.

Nếu bạn vẫn còn lo lắng về bệnh trào ngược dạ dày, hãy gọi ngay tới đầu số hotline 0984 190 861 để được hỗ trợ bởi các chuyên gia về bệnh dạ dày.
Chỉ cần bạn để lại số điện thoại, chúng tôi sẽ gọi lại cho bạn NGAY!

Thực phẩm bảo vệ sức khoẻ Tuệ Đức Hoàn Nguyên Vị giúp hỗ trợ giảm trào ngược, hành khí, hoạt huyết, thông kinh lạc, chỉ thống, chỉ huyết, an thần, kiện tỳ vị, hỗ trợ điều trị trào ngược dạ dày thực quản, viêm loét dạ dày tá tràng và cải thiện chức năng đường tiêu hoá.

bo doi bao ve da day
Hotline 0984 190 861
Sản phẩm của Công ty cổ phần Đông y Tuệ Đức
Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.
Số giấy phép quảng cáo: 727/2015/ATTP-XNQC





CHIA SẺ
Bài trướcCÂY KHÔI
Bài kế tiếpMẪU LỆ