CÂY ỔI

0
292
tac dung chua benh cua qua oi
Quả ổi
CÂY ỔI
5 (100%) 2 votes

Còn gọi là ủi, phan thạch lựu, guajava. Tên khoa học Psidium guyjava L (P.pomifrrum L. Psidium Pyriferum L). Thuộc họ Sim Myrtaceae.

Mô tả cây

Tác dụng chữa bệnh của cây ổi
Cây ổi chữa bệnh

Ổi là một cây nhỡ, cao chừng 3-5m, cành nhỏ thì vuông cạnh. Lá mọc đối có cuống ngắn, hình bầu dục, nhẵn hoặc hơi có lông ở mặt trên, mặt dưới có lông mịn, phiến nguyên, khi soi lên có thấy túi tinh dầu trong. Hoa màu trắng, mọc đơn độc ở kẽ lá. Quả là một quả mọng có vỏ quả giữa dày, hình dáng thay đổi tùy theo loài. Ở đầu quả có sẹo của đài tồn tại, rất nhiều hạt, hình thận, không đều, màu hơi hung.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây ổi nguồn gốc miền nhiệt đới chây Mỹ, sau được phổ biến và trồng ở khắp châu Á, châu Phi. Đặc biệt ở nước ta, cây ổi mọc hoang nhiều ở vùng núi miền Bắc, tuy nhiên phần nhiều người trồng để lấy quả ăn.

Ngoài ra, ổi còn cung cấp các bộ phận sau đây dùng làm thuốc: Búp non, lá non, quả, vỏ, rễ và vỏ thân. Nhưng hay dùng nhất là búp non và lá non, nó được dùng tươi, phơi hoặc sấy khô đều được.

Thành phần hóa học

tac dung chua benh cua qua oi

Trong quả ổi có chứa pectin và vitamin C, lượng vitamin thay đổi tùy theo bộ phận của quả, loài, nó thường tập chung nhiều nhất ở vỏ ngoài sau đến phía ngoài của vỏ quả giữa.

Trong lá và búp non chứa 7-10% tanin pyrogalic, axit psiditanic, chừng 3% nhựa và rất ít tinh dầu (0,36%).

Một nghiên cứu của Athur H R.et W. Hui, năm 1952 chỉ ra trong thân và lá có chứa chất tritecpenic.

Trong hạt có 14% chất dầu đặc sánh, mùi thơm, 15% protein và 13% tinh bột.

Công dụng và liều dùng

Quả ổi xanh vị chát, có tính gây táo bón và có thể dùng chữa đi ỉa lỏng, khi chín, quả ổi hơi có tác dụng nhuận. Người ta ăn ổi chín hoặc chế thành mứt đóng hộp.

Theo kinh nghiệm lâu đời trong dân gian, lá non và búp ổi non là một vị thuốc chữa đau bụng đi ngoài, thường dùng dưới dạng thuốc sắc hay thuốc pha, ngày dùng 15-20g búp non, có thể dùng riêng hoặc phối hợp với chè, gừng,…

Vỏ rễ và vỏ thân cũng được dùng để chữa đi ngoài và rửa vết thương, vết loét bằng cách đun uống, liều lượng: 15g sắc với 200ml nước, nấu cạn, đến khi còn chừng 100ml.