Sen

0
56
Công dụng chữa bệnh của cây sen
Sen
5 (100%) 1 vote

Còn có tên là liên, quỳ. Tên khoa học Nelumbo nucifera Gaertn. Thuộc họ Sen Nelumbonaceae. Ta dùng tâm sen còn gọi là liên tâm hay liên tử tâm là chồi mầm phơi hay sấy khô lấy ở hạt sen.

Mô tả cây

Sen là một loại cây mọc ở dưới nước, thân rễ hình trụ mọc ở trong bùn thường gọi là ngó sen hay ngẫu tiết, ăn được, lá mọc lên khỏi mặt nước, cuống lá dài, có gai nhỏ, phiến lá hình khiên, to, đường kính 60-70cm có gân tỏa tròn.

Hoa to màu trắng hay đỏ hồng, đều lưỡng tính. Đài 3-5, màu lục. Tràng gồm rất nhiều cánh màu hồng hay trắng một phần, những cánh ngoài còn có màu lục như lá đài. Nhị nhiều, bao phấn 2 ô, nứt theo một kẽ dọc. Trung đới mọc dài ra thành một phần hình trắng thường gọi là gạo sen dùng để ướp chè. Nhiều lá noãn rời nhau đựng trong một đế hoa loe ra thành hình nón ngược gọi là gương sen hay liên phòng. Mỗi lá noãn có 1-2 tiểu noãn. Quả (thường gọi là hạt sen) chứ một hạt (liên nhục) không nội nhũ. Hai lá mầm dày. Chồi mầm (liên tâm) gồm 4 lá non gập vào phía trong.

Công dụng chữa bệnh của cây sen
Cây sen

Tác dụng dược lý

– Nelumbin có tính chất độc đối với tim (Greschoff và Boorsma).

– Có tác dụng bình tĩnh dục tính cho nên có thể dùng trong bệnh di tinh.

– Qua nhiều lần thử tác dụng của thuốc chế từ sen trên tử cung cô lập của chuột có thai và không có thai thấy có tính chất làm yếu cơ.

Nhưng thí nghiệm trên tử cung cô lập của thỏ thì lại thấy tác dụng kích thích. Cho thỏ cái uống nước sen cũng thấy tác dụng như vậy.

Đối với ruột cô lập, sen làm giảm sự co bóp.

Cho chó uống nước sen thấy huyết áp tăng lên, lượng nước tiểu giảm xuống.

Công dụng và liều dùng

Dùng chữa tim hồi hộp, mất ngủ, di mộng tinh. Ngày uống 4-10g tâm sen khô dưới dạng thuốc sắc hay thuốc pha, có thể thêm đường cho để uống.

Theo tài liệu cổ, tâm sen có vị đắng, tính hàn. Có tác dụng thanh tâm khứ nhiệt. Dùng chữa tâm phiền, thổ huyết.

Những vị thuốc khác lấy từ sen ra:

  1. Liên ngẫu: Ngó sen-Nodus Rhizomatis Loti.

Trong ngó sen có asparagin 2% acginin, trigonelin, tyroin, ete photphoric, glucoza, vitamin C.

Công dụng và liều dùng: Làm thức ăn, thuốc cầm máu, dùng trong những trường hợp đi ngoài ra máu, tiểu tiện ra máu, nôn ra máu, máu cam, tử cung suất huyết. Ngày dùng từ 6-12g dưới dạng thuốc sắc.

  1. Thạch liên tử: Ta vẫn gọi là hạt sen, nếu bóc lấy hạt ta được liên nhục hay liên tử.

Trong liên nhục, người ta đã phân tích thấy có nhiều tinh bột, trigonelin, đường (raffinoza) C18H32O165H2O, protit 16,6%, chất béo 2%, cacbon hydrat 62%-canxi 0,089%, photpho 0,285%, sắt (Fe) 0,0064%.

Thạch liên tử thường dùng chữa lỵ cấm khẩu với liều từ 6-12g dưới dạng thuốc sắc.

Liên nhục: thuốc bổ, cố tinh, chữa di tinh, mất ngủ, thần kinh suy nhược. Ngày dùng từ 10 đến 30g dưới dạng sắc hay thuốc bột.

  1. Liên phòng: là gương sen già sau khi đã lấy hết quả (hạt) rồi, phơi khô.

Dùng chữa bệnh đi đại tiện ra máu, bệnh băng đới. ngày dùng 15-30g dưới dạng thuốc sắc.

Đơn thuốc chữa băng huyết sau khi đẻ: Gương sen 5 cái, hương phụ 80g. Đốt cháy, tán nhỏ. Ngày uống 8-24g, chia 2-3 lần uống.

  1. Lá sen

Thường người ta cho lá sen cùng một công dụng với gương sen. Nhưng khi bệnh cấp thì dùng lá sen. Liều dùng 15-20g: dưới dạng thuốc sắc.

  1. Liên tu tức là tua nhị đực của hoa sen bỏ hạt gạo đi, rồi phơi khô.

Chữa băng huyết, thổ huyết, di mộng tinh. Ngày uống 5-10g dưới dạng thuốc sắc.

>> Tham khảo thêm: Công dụng của cây lạc tiên

CHIA SẺ
Bài trướcLạc tiên
Bài kế tiếpMướp tây