TRẦN BÌ – QUÍT

0
125
Trần bì chữa bệnh về đường tiêu hóa
Cây quít chữa bệnh đường tiêu hóa
TRẦN BÌ – QUÍT
5 (100%) 2 votes

Tên khoa học Cirus deliciusae Tenore, Citrus nobilis var. deliciosa Swigle. Thuộc họ Cam Rutaceae.

Cây quít cho ta các vị thuốc sau đây:

  • Trần bì là vỏ quít phơi càng để lâu càng coi là quý và tốt.
  • Quất hạch là hạt quít phơi khô
  • Thanh bì là vỏ quả quít còn xanh.

Mô tả cây

Trần bì chữa bệnh về đường tiêu hóa
Cây quít chữa bệnh đường tiêu hóa

Quít là một cây nhỏ, lá mọc so le, đơn, mép có răng cưa, vỏ có mùi thơm đặc biệt. Hoa nhỏ, màu trắng, mọc đơn độc ở kẽ lá, Quả hình cầu hai đầu dẹt, màu vàng cam hay vàng đỏ, vỏ mỏng nhẵn hay hơi sần sùi, dễ bóc. Mùi thơm ngon, nhiều hạt.

Phân bố, thu hái và chế biến

Quít được trồng nhiều ở trong nước ta. Nhiều nhất tại các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Nam Định, Hà Nam, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh… Tại Trung Quốc, ngoài cây cùng loài với quít của ta, người ta còn trồng một số loài quít khác và cũng cho trần bì và quất hạch như cây đại hồng cam, cây phúc quyết và cây châu quyết. Ở Việt Nam, ngoài cây quít ngọt, ta còn dùng vỏ nhiều loại cây quít khác chưa ai xác định tên khoa học như quít giấy, quít tàu, quít nuốm, v.v…

Thành phần hóa học

Trong quả quít vỏ chiếm 22-22,5%; nước quít 28-56%; hạt 1,3-2,5%; các thứ khác 0,3%. Vỏ quả quít còn tươi chứa tinh dầu 3,8% (2000 đến 2500 quả cho 1 lít tinh dầu), nước và thành phần bốc hơi được 61,25%; hesperidin C30H60O27, vitamin A, B và chừng 0,8% tro.

Tinh dầu quít là một chất lỏng màu vàng nhạt, có huỳnh quang xanh, mùi thơm dễ chịu. Thành phần chủ yếu trong tinh dầu quít là d.limonen, một ít xitrala, các andehyt nonylic và đexylic, chừng 1% metylanthranilatmetyl. Trong nước quít có đường 11,6%, axit xitric 25, vitamin C (25-40mg trong 100g), caroten. Hạt quít chỉ định lượng độ tro chừng 0,2%. Trong lá quít cũng có chứa chừng 0,5% tinh dầu.

Công dụng và liều dùng

Ngoài công dụng của quả quít trong thực phẩm, vỏ và lá quít để chế tinh dầu, quít còn là một vị thuốc rất để chế tinh dầu, quít còn là một vị thuốc rất quan trọng và rất thông dụng trong đông y và trong nhân dân.

Trần bì chữa bệnh về đường tiêu hóa, chữa nôn mửa, sốt rét
Trần bì chữa ăn không ngon, khó tiêu

Theo tài liệu cổ: Trần bì vị cau đắng, tính ôn vào hai kinh tỳ và phế, hạt vị đắng tính bình, vào hai kinh can và thận. Có tác dụng kiện tỳ, lý khí, táo thấp, hóa đờm. Trần bì là một vị thuốc chữa ăn uống không tiêu, ăn không ngon, nôn mửa, sốt rét, trừ đờm.

Liều dùng hằng ngày: 4-12g hay hơn.

Quất hạch chữa sa đì (thiên trụy, hòn dái sưng đau) ngày dùng 6-12g hay 16g.

Nước quít uống trong khi say rượu, giải khát, thêm vitamin bồi bổ. Lá quít hơ nóng đắp chữa đau bụng, ho, sưng vú. Có khi phơi khô sắc uống như vỏ quít.ngày dùng 6-12g.

Đơn thuốc có trần bì và hạt quít

Thuốc giúp sự tiêu hóa:

Trần bì 0,5g; hoàng bá 0,3g; hoàng liên 0,3g; đảng sâm 0,3g; cam thảo 0,3g. Tất cả tán bột, trộn đều. Chia ba lần uống trong ngày.

Chữa ho mất tiếng:

Trần bì 12g, sắc với 200ml nước, còn 100ml cho thêm đường vào cho đủ ngọt, nhấp uống dần trong ngày.