Cơ chế bệnh sinh viêm loét dạ dày – tá tràng

0
2668
Cơ chế bệnh sinh viêm loét dạ dày – tá tràngCơ chế bệnh sinh viêm loét dạ dày – tá tràng
Cơ chế bệnh sinh viêm loét dạ dày – tá tràng
Đánh giá bài viết này

Bệnh viêm loét dạ dày được hình thành khi các yếu tố tấn công vượt lấn át các yếu tố bảo vệ dạ dày.

Khi các yếu tố tấn công dần lấn át các yếu tố bảo vệ, đó là khi niêm mạc dạ dày bắt đầu bị “ăn mòn” – chính là khởi đầu của bệnh viêm loét dạ dày. Các tổn thương sẽ tiến triển từ viêm nông, viêm trợt rồi đến viêm loét. Nặng hơn nữa là thủng tại vị trí viêm loét. Các triệu chứng đau của bệnh nhân cũng vì thế mà ngày càng nghiêm trọng.

Yếu tố tấn công

  • Axit HCl và pepsintrong dịch vị: HCl là một trong những axit có tính ăn mòn cao, có khả năng hòa tan kẽm và làm chết các tế bào. Cả hai chất này đều ăn mòn lớp bicarbonat bảo vệ dạ dày.
  • Xoắn khuẩn Helicobacter pylori (HP):

Xoắn khuẩn này sản sinh ra NH3:

  • Phá hủy lớp chất nhầy không tan (yếu tố bảo vệ)
  • Cản trở sự tổng hợp chất nhầy phủ trên niêm mạc dạ dày
  • Biến đổi cấu trúc phân tử chất nhầy, từ hình cầu sang hình phiến mỏng. Do vậy lớp chất nhầy dễ bị tiêu hủy bởi pepsin.

Nó còn tiết ra một số độc tố gây tổn thương trực tiếp tế bào niêm mạc dạ dày.

  • Các thuốc dùng trong điều trị như aspirin, salyxylat, corticoid gây rối loạn lớp chất nhầy không hoà tan, do đó tổn thương niêm mạc dạ dày viêm, loét.
  • Nhóm máu 0: nhóm này có sự ưu tiên kết hợp với xoắn khuẩn HP.

Yếu tố bảo vệ

– HCO3 (Bicarbonat): được tiết ra bởi các tế bào biểu mô bề mặt, nó có tính kềm nên có tác dụng trung hòa axit dịch vị. Trong điều kiện bình thường nó giúp duy trì độ pH trên bề mặt niêm mạc dạ dày là 7.

– Lớp chất nhầy phủ trên niêm mạc dạ dày:

+ Chất nhầy này không thấm nước và protein nên có thể chống lại sự phân giải protein của axit, pepsin hay enzyme tiêu hóa.

+ Chất nhầy do tế bào cổ nhầy và tế bào biểu mô tiết ra.

+ Chất nhầy có hai loại:

– Loại hòa tan trong dịch vị: trung hòa một phần pepsin và dịch vị.

– Loại không hòa tan trong dịch vị (HCl và pepsin không tác động được vào loại này): loại này cùng với HCO3 tạo nên một màng dai, phủ kín toàn bộ niêm mạc dạ dày và hành tá tràng.

– Tế bào biểu mô bề mặt: liên kết chặt chẽ với nhau, không cho HCl và pepsin đi vào các lớp bên trong.

– Các tế bào của niêm mạc được thay mới mỗi tuần. Lớp đáy bên dưới biểu mô có nhiệm vụ phải chồi ra đủ các tế bào mới để thay thế toàn bộ niêm mạc dạ dày.

– Lưu lượng máu đến niêm mạc dạ dày giúp cung cấp oxy và bicarbonat đến lớp dưới biểu mô, tăng cường thêm hệ đệm và tăng khả năng tái tạo tế bào khi bị tổn thương, ảnh hưởng sự bền vững của hàng rào niêm mạc dạ dày tá tràng.

Bạn đang theo dõi bài viết:

Cơ chế bệnh sinh của viêm loét dạ dày trên baithuoc.vn

Nếu bạn vẫn còn lo lắng về bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, hãy gọi ngay tới đầu số chăm sóc khách hàng miễn phí 1800 6658 hoặc hotline 0984 190 861 để được hỗ trợ bởi các chuyên gia về bệnh dạ dày.
Chỉ cần bạn để lại số điện thoại, chúng tôi sẽ gọi lại cho bạn NGAY!

Để lại bình luận

Hãy trở thành người đầu tiên bình luận

avatar
wpDiscuz